1. Từ tăng trưởng nhanh đến phát triển bền vững: Một bước chuyển tất yếu của thương mại điện tử Việt Nam
Trong gần hai thập niên qua, thương mại điện tử (TMĐT) đã chuyển từ một phương thức kinh doanh mới mẻ thành một cấu phần quan trọng của nền kinh tế số Việt Nam. Sự phổ cập của Internet, điện thoại thông minh, thanh toán điện tử và các nền tảng số đã làm thay đổi sâu sắc cách thức doanh nghiệp tiếp cận thị trường và cách người tiêu dùng tìm kiếm, lựa chọn và mua sắm hàng hóa.
Theo số liệu được Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) công bố, quy mô TMĐT Việt Nam năm 2024 ước đạt khoảng 32 tỷ USD, tăng 27% so với năm 2023. Riêng bán lẻ hàng hóa trực tuyến đạt khoảng 22,5 tỷ USD, tăng 30%; doanh thu từ TMĐT tương đương khoảng 12% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của cả nước. Những con số này cho thấy TMĐT không còn là kênh bán hàng bổ trợ mà đã trở thành một phần quan trọng của hệ thống phân phối. Đối với doanh nghiệp nông nghiệp, sự phát triển này đặc biệt có ý nghĩa. Những hạn chế cố hữu của sản xuất nông nghiệp như tính mùa vụ, sự phân tán của vùng sản xuất, khoảng cách giữa nơi sản xuất và nơi tiêu dùng, sự phụ thuộc vào các khâu trung gian và khó khăn trong xây dựng thương hiệu có thể từng bước được giải quyết thông qua các nền tảng số.
Bảng 1. Quy mô và tốc độ phát triển TMĐT Việt Nam
|
Chỉ tiêu
|
Năm 2023
|
Năm 2024
|
Thay đổi
|
|
Quy mô TMĐT
|
>25 tỷ USD
|
32 tỷ USD
|
+27%
|
|
Bán lẻ hàng hóa trực tuyến
|
–
|
22,5 tỷ USD
|
+30%
|
|
TMĐT/tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
|
10%
|
khoảng 12%
|
+2%
|
|
Bán lẻ hàng hóa trực tuyến/tổng mức bán lẻ hàng hóa
|
8,8%
|
khoảng 11%
|
+2,2%
|
Nguồn: VECOM, Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam 2025
Một doanh nghiệp, hợp tác xã hay cơ sở sản xuất ở một vùng nông thôn giờ đây có thể tiếp cận khách hàng ở các đô thị lớn mà không nhất thiết phải phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống phân phối truyền thống. Một sản phẩm đặc sản địa phương có thể được giới thiệu trực tiếp tới người tiêu dùng thông qua sàn TMĐT, mạng xã hội, livestream hoặc website của doanh nghiệp. Thông tin về vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, chứng nhận chất lượng và câu chuyện sản phẩm cũng có thể được truyền tải trực tiếp đến khách hàng.
Tuy nhiên, TMĐT phát triển nhanh không đồng nghĩa với TMĐT mặc nhiên bền vững. Cùng với sự gia tăng của số lượng đơn hàng là sự gia tăng của các hoạt động đóng gói, lưu kho, vận chuyển và giao hàng chặng cuối. Mỗi đơn hàng trực tuyến có thể kéo theo nhiều lớp bao bì, một hành trình vận chuyển và trong một số trường hợp là giao hàng lại hoặc hoàn trả. Nếu những hoạt động này chỉ được tối ưu theo tiêu chí tốc độ và chi phí mà chưa tính đầy đủ đến tác động môi trường, quá trình mở rộng TMĐT có thể tạo ra những chi phí xã hội và môi trường ngày càng lớn.
Bao bì là một trong những vấn đề dễ nhận thấy nhất. Theo các thông tin được công bố từ nghiên cứu về rác thải nhựa trong TMĐT tại Việt Nam, năm 2023 hoạt động mua sắm trực tuyến và giao đồ ăn đã phát sinh khoảng 171.000 tấn rác thải nhựa. Nếu không có những giải pháp phù hợp, khi quy mô thị trường TMĐT tiếp tục mở rộng, lượng rác thải nhựa từ lĩnh vực này được dự báo có thể lên tới khoảng 800.000 tấn vào năm 2030. Đây là một kịch bản dự báo, không phải lượng rác thải đã phát sinh, nhưng là một cảnh báo đáng chú ý về áp lực môi trường của TMĐT. Đối với nông sản, vấn đề này càng đáng quan tâm. Các sản phẩm rau quả tươi, thực phẩm chế biến và nhiều sản phẩm nông nghiệp khác thường cần được bảo vệ trong quá trình vận chuyển. Doanh nghiệp có thể phải sử dụng nhiều lớp bao bì để hạn chế va đập, nhiễm bẩn hoặc hư hỏng. Nếu thiết kế bao bì không phù hợp, doanh nghiệp phải đối mặt với một nghịch lý: giảm bao bì có thể làm tăng tỷ lệ hư hỏng sản phẩm, nhưng sử dụng quá nhiều bao bì lại làm gia tăng chi phí và chất thải.
Logistics cũng đặt ra một bài toán tương tự. Một nghiên cứu công bố năm 2026 trên Engineering and Technology for Sustainable Development, sau khi rà soát 174 công trình nghiên cứu, xác định hoạt động giao hàng, đặc biệt là giao hàng chặng cuối, cùng với bao bì và sử dụng năng lượng là những nhóm vấn đề đáng chú ý liên quan đến phát thải khí nhà kính trong TMĐT. Nghiên cứu đồng thời chỉ ra những hướng giảm phát thải như sử dụng phương tiện điện hoặc phương tiện thay thế, tối ưu hóa tuyến giao hàng, sử dụng bao bì tái sử dụng, tủ nhận hàng và thay đổi hành vi của người tiêu dùng. Đối với nông sản, bài toán logistics còn phức tạp hơn bởi sản phẩm có tính mùa vụ, dễ hư hỏng và trong một số trường hợp cần kiểm soát nhiệt độ. Một hệ thống logistics hiệu quả vì thế không chỉ có nghĩa là giao hàng nhanh, mà còn phải giảm quãng đường vận chuyển không cần thiết, hạn chế giao hàng thất bại, giảm hao hụt sản phẩm và sử dụng năng lượng hiệu quả.
Điều đó đặt ra một yêu cầu mới đối với doanh nghiệp nông nghiệp: không thể chỉ hỏi làm thế nào để bán được nhiều nông sản hơn trên môi trường số, mà phải hỏi làm thế nào để tạo ra và phân phối giá trị nông sản theo cách hiệu quả hơn, có trách nhiệm hơn và ít tác động tiêu cực đến môi trường hơn. Đây chính là điểm chuyển từ TMĐT tăng trưởng nhanh sang TMĐT phát triển bền vững.
2. Từ chính sách quốc gia đến địa phương: TMĐT xanh đã trở thành một định hướng phát triển
Ngày 03/6/2025, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1568/QĐ-BCT, phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2026–2030. Kế hoạch xác định TMĐT là một lĩnh vực tiên phong của nền kinh tế số, đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững. Đặc biệt, mục tiêu bao trùm của kế hoạch là tối ưu hóa toàn bộ chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu dùng thông qua công nghệ, đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Đây là một thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận chính sách. TMĐT không còn được nhìn nhận đơn thuần dưới góc độ doanh thu, số lượng giao dịch hay mức độ ứng dụng công nghệ, mà được đặt trong một hệ thống mục tiêu rộng hơn về phát triển bền vững.
Kế hoạch quốc gia đặt ra một loạt mục tiêu đến năm 2030. Doanh số bán lẻ TMĐT được định hướng tăng 20–30% mỗi năm và chiếm 20% tổng mức bán lẻ hàng hóa; tỷ lệ doanh nghiệp đáp ứng bộ tiêu chí quốc gia về TMĐT bền vững đạt 60%; tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng TMĐT đạt trên 70%; thanh toán không dùng tiền mặt trong TMĐT đạt 80%; và chi phí trung bình cho giao hàng chặng cuối được định hướng không quá 8–15% doanh thu. Đáng chú ý, kế hoạch quốc gia cũng yêu cầu xây dựng bộ tiêu chí quốc gia đánh giá TMĐT bền vững, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường, nguyên liệu tái chế, tái sử dụng hoặc có khả năng phân hủy; đồng thời định hướng phát triển kho và trung tâm phân phối thông minh, sử dụng năng lượng tái tạo và giảm tác động tiêu cực đến môi trường.
Như vậy, phát triển TMĐT bền vững đã được chuyển từ một khái niệm mang tính khuyến nghị thành một định hướng chính sách với những mục tiêu có thể đo lường. Định hướng này cũng đang được cụ thể hóa tại các địa phương.
Tại Hưng Yên, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 120/KH-UBND ngày 19/11/2025 về phát triển TMĐT giai đoạn 2026–2030. Kế hoạch xác định phát triển TMĐT theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững, với các mục tiêu như giảm tỷ lệ sản phẩm sử dụng bao bì nhựa xuống tối đa 45%, đưa tỷ lệ sản phẩm sử dụng bao bì có thể tái chế lên 50% và ít nhất 50% doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn đóng gói xanh. Kế hoạch đồng thời nhấn mạnh việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh trong tiêu thụ sản phẩm địa phương. Tại Ninh Bình, Kế hoạch số 140/KH-UBND ngày 19/11/2025 về phát triển TMĐT giai đoạn 2026–2030 cũng được triển khai thông qua các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh đưa sản phẩm OCOP, sản phẩm thế mạnh của địa phương lên các sàn TMĐT; hỗ trợ xây dựng website và tham gia các sàn TMĐT toàn cầu; đồng thời tổ chức đào tạo kỹ năng ứng dụng TMĐT cho doanh nghiệp và hợp tác xã.
Những chính sách trên cho thấy một xu hướng rõ ràng: TMĐT bền vững đang được hình thành từ cả hai chiều – từ định hướng quốc gia xuống địa phương và từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp lên chính sách. Đối với doanh nghiệp nông nghiệp, điều này có nghĩa rằng xanh hóa TMĐT không còn là câu chuyện xa vời hay chỉ dành cho các doanh nghiệp lớn. Đây đang dần trở thành một phần của môi trường kinh doanh mới.
3. TMĐT bền vững cho doanh nghiệp nông nghiệp: Ba mục tiêu cần được cân bằng
Một câu hỏi quan trọng được đặt ra là: TMĐT bền vững thực sự có nghĩa là gì đối với doanh nghiệp nông nghiệp?
Trong nghiên cứu quốc tế, Oláh & cs. (2019) tiếp cận tính bền vững của TMĐT trên ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời nhấn mạnh rằng ba phương diện này có thể tạo ra những đánh đổi và cần được cân bằng trong quá trình phát triển. Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam. Bởi nếu chỉ tập trung vào môi trường mà bỏ qua hiệu quả kinh tế, mô hình sẽ khó tồn tại; nếu chỉ tối đa hóa doanh thu mà bỏ qua trách nhiệm xã hội và môi trường, tăng trưởng sẽ khó duy trì trong dài hạn.
Hình 1. Mô hình nghiên cứu tính bền vững của thương mại điện tử B2C
Nguồn: Oláh & cs. (2019)
3.1. Hiệu quả kinh tế: TMĐT phải tạo ra giá trị thực cho doanh nghiệp
Mục tiêu đầu tiên của TMĐT bền vững vẫn là hiệu quả kinh tế.
Đối với doanh nghiệp nông nghiệp, hiệu quả này không nên chỉ được đo bằng doanh thu bán hàng trực tuyến. Một mô hình TMĐT hiệu quả cần giúp doanh nghiệp giảm chi phí giao dịch, mở rộng thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm, giảm hao hụt và sử dụng nguồn lực tốt hơn. TMĐT cho phép doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp hơn với khách hàng và thu thập dữ liệu về nhu cầu, hành vi mua hàng, thời điểm mua và mức độ phản hồi đối với từng sản phẩm. Nếu được kết nối với dữ liệu sản xuất và tồn kho, những thông tin này có thể hỗ trợ doanh nghiệp chuyển từ tư duy "sản xuất rồi tìm thị trường" sang "sản xuất dựa trên tín hiệu thị trường".
Đây là thay đổi đặc biệt quan trọng với nông nghiệp. Khi doanh nghiệp dự báo tốt hơn nhu cầu, sản xuất và phân phối có thể được điều chỉnh phù hợp hơn, từ đó giảm tồn kho, giảm hàng hóa không tiêu thụ được và giảm lãng phí.
3.2. Trách nhiệm xã hội: Tạo dựng niềm tin và phân phối giá trị công bằng hơn
Phương diện thứ hai là trách nhiệm xã hội.
Trong TMĐT, người tiêu dùng thường không trực tiếp nhìn thấy sản phẩm trước khi mua. Đối với nông sản, khoảng cách thông tin càng lớn: khách hàng không thể trực tiếp quan sát vùng trồng, quy trình sản xuất hay điều kiện bảo quản. Do đó, minh bạch thông tin trở thành nền tảng của niềm tin.
Doanh nghiệp cần cung cấp thông tin rõ ràng về nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng, thành phần, hướng dẫn sử dụng và điều kiện bảo quản. Công nghệ QR, truy xuất nguồn gốc và các hệ thống dữ liệu có thể giúp thu hẹp khoảng cách thông tin giữa người sản xuất và người tiêu dùng.
Nhưng trách nhiệm xã hội không chỉ nằm ở người tiêu dùng. TMĐT cũng mở ra cơ hội để hợp tác xã, hộ sản xuất và doanh nghiệp nhỏ ở khu vực nông thôn tiếp cận thị trường rộng hơn. Kế hoạch TMĐT quốc gia giai đoạn 2026–2030 đặt mục tiêu 60% doanh nghiệp vừa và nhỏ tiến hành hoạt động kinh doanh trên nền tảng TMĐT và 1 triệu lượt doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, cá nhân, cán bộ quản lý và sinh viên được tham gia các khóa đào tạo kỹ năng ứng dụng TMĐT. Nếu được triển khai hiệu quả, đây không chỉ là chương trình chuyển đổi số mà còn có thể góp phần thu hẹp khoảng cách số giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ, giữa đô thị và nông thôn, giữa vùng sản xuất và thị trường.
3.3. Bảo vệ môi trường: Xanh hóa từ sản phẩm đến giao hàng
Phương diện thứ ba là bảo vệ môi trường.
Đây là nơi những tác động của TMĐT có thể nhìn thấy rõ nhất thông qua bao bì, vận chuyển, năng lượng và xử lý chất thải. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp nông nghiệp, xanh hóa TMĐT không thể chỉ được hiểu là "thay túi nylon bằng túi giấy". Một giải pháp bao bì chỉ thực sự bền vững khi nó đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ sản phẩm, an toàn thực phẩm, chi phí hợp lý và khả năng tái chế hoặc tái sử dụng.
Ví dụ, nếu giảm bao bì khiến tỷ lệ nông sản hư hỏng tăng lên đáng kể, lượng thực phẩm bị lãng phí có thể tạo ra tác động môi trường lớn hơn phần bao bì được tiết giảm. Vì vậy, mục tiêu đúng không phải là "ít bao bì nhất", mà là "bao bì phù hợp nhất với vòng đời sản phẩm".
Tương tự, logistics xanh không đơn giản là chuyển toàn bộ phương tiện giao hàng sang xe điện. Doanh nghiệp cần đồng thời tối ưu tuyến giao hàng, giảm quãng đường rỗng, tăng tỷ lệ giao hàng thành công, tổ chức kho hợp lý và hạn chế giao hàng nhiều lần.
Như vậy, bảo vệ môi trường không phải là một hoạt động nằm bên ngoài mô hình kinh doanh; nó cần được tích hợp vào chính cách doanh nghiệp thiết kế sản phẩm, đóng gói, lưu kho, vận chuyển và phục vụ khách hàng.
4. Những rào cản đối với doanh nghiệp nông nghiệp
Thứ nhất, hạn chế và sự phát triển không đồng đều về năng lực số. Sự phát triển TMĐT giữa các địa phương vẫn có khoảng cách rất lớn. Theo VECOM, EBI được xây dựng dựa trên ba nhóm tiêu chí gồm hạ tầng và nguồn nhân lực, giao dịch B2C và giao dịch B2B. Kết quả cho thấy khoảng cách đáng kể giữa các trung tâm kinh tế và nhiều địa phương khác. TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội lần lượt đạt 91,1 và 87,5 điểm, trong khi các địa phương thuộc nhóm thấp nhất như Vĩnh Long, Cao Bằng, Lai Châu, Sơn La và Điện Biên chỉ đạt từ 4,2 đến 5,7 điểm. Đáng chú ý, điểm của địa phương đứng thứ ba là Đà Nẵng (22,3) cũng thấp hơn rất nhiều so với hai địa phương dẫn đầu. Điều này cho thấy hạ tầng, nguồn nhân lực và năng lực tham gia TMĐT chưa được phân bổ đồng đều giữa các địa phương, tạo ra một thách thức đáng kể đối với quá trình số hóa doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp ở những khu vực có điều kiện kinh tế và hạ tầng số còn hạn chế.
Bảng 2. Chỉ số Phát triển thương mại điện tử (EBI: e-Business Index) tại một số địa phương
|
Nhóm
|
Địa phương
|
Điểm EBI
|
|
Dẫn đầu
|
TP. Hồ Chí Minh
|
91,1
|
|
Hà Nội
|
87,5
|
|
Nhóm tiếp theo
|
Đà Nẵng
|
22,3
|
|
Hải Phòng
|
17,9
|
|
Bắc Ninh
|
17,9
|
|
Nhóm thấp nhất
|
Vĩnh Long
|
5,7
|
|
Cao Bằng
|
4,7
|
|
Lai Châu
|
4,7
|
|
Sơn La
|
4,4
|
|
Điện Biên
|
4,2
|
Nguồn: VECOM, Báo cáo Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam 2026
Đối với doanh nghiệp nông nghiệp, đặc biệt với nhiều doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ sản xuất chưa có nhân lực chuyên trách về TMĐT, marketing số, quản trị dữ liệu và quản lý gian hàng. Sự phụ thuộc vào các đơn vị trung gian cũng khiến doanh nghiệp khó hình thành năng lực số nội tại và chủ động trong hoạt động kinh doanh trực tuyến.
Thứ hai, hạn chế về nguồn lực đầu tư. Việc triển khai bao bì xanh, hệ thống truy xuất nguồn gốc, kho thông minh, phương tiện vận tải phát thải thấp hay các phần mềm quản trị đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu đáng kể. Đây là thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất có quy mô nhỏ.
Thứ ba, hạn chế về hạ tầng logistics. Nông sản được sản xuất phân tán tại nhiều vùng, trong khi thị trường tiêu dùng chủ yếu tập trung ở các đô thị. Đặc biệt, với nông sản tươi sống, yêu cầu cao về thời gian giao hàng, bảo quản và điều kiện vận chuyển khiến logistics trở thành một trong những thách thức lớn đối với phát triển TMĐT bền vững.
Thứ tư, thiếu dữ liệu về tác động môi trường của TMĐT. Mặc dù Việt Nam đã có một số nghiên cứu và số liệu về rác thải bao bì, phát thải từ logistics, nhưng vẫn chưa có hệ thống thống kê đầy đủ để lượng hóa toàn diện dấu chân môi trường của TMĐT. Vì vậy, việc xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống chỉ tiêu đo lường tác động môi trường là yêu cầu cần thiết, đồng thời là một hướng nghiên cứu quan trọng trong thời gian tới. Định hướng này cũng phù hợp với Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2026–2030, trong đó nhấn mạnh việc tăng cường năng lực thống kê về TMĐT ở cấp quốc gia, địa phương và theo ngành hàng.
5. Từ chính sách đến hành động: Doanh nghiệp nông nghiệp cần bắt đầu từ đâu?
Thứ nhất, số hóa chuỗi giá trị thay vì chỉ mở gian hàng trực tuyến. Doanh nghiệp cần kết nối dữ liệu sản xuất, tồn kho, đơn hàng, khách hàng và logistics. TMĐT chỉ thực sự tạo ra giá trị khi dữ liệu thị trường quay trở lại hỗ trợ hoạt động sản xuất và phân phối.
Thứ hai, thiết kế lại bao bì theo vòng đời sản phẩm. Thay vì chỉ tìm loại bao bì "xanh", doanh nghiệp cần đánh giá toàn bộ vòng đời: lượng vật liệu sử dụng, khả năng bảo vệ sản phẩm, khả năng tái sử dụng, tái chế và chi phí vận chuyển.
Thứ ba, tối ưu hóa logistics trước khi đầu tư công nghệ đắt tiền. Việc gom đơn, tối ưu tuyến giao hàng, giảm giao hàng thất bại và nâng cao hiệu suất sử dụng phương tiện đôi khi có thể mang lại hiệu quả nhanh hơn so với việc đầu tư ngay vào những công nghệ phức tạp.
Thứ tư, biến truy xuất nguồn gốc thành tài sản thương hiệu. QR và truy xuất nguồn gốc không nên chỉ được sử dụng để "đáp ứng yêu cầu". Doanh nghiệp có thể biến dữ liệu về vùng trồng, quy trình sản xuất và chất lượng thành nội dung kể chuyện thương hiệu, qua đó tạo thêm giá trị cho nông sản.
Thứ năm, đo lường các chỉ tiêu bền vững. Doanh nghiệp có thể bắt đầu từ những chỉ tiêu đơn giản như tỷ lệ bao bì tái chế, lượng bao bì trên mỗi đơn hàng, tỷ lệ giao hàng thành công, tỷ lệ sản phẩm hư hỏng trong vận chuyển, chi phí logistics trên một đơn hàng, tỷ lệ sản phẩm có thông tin truy xuất và mức độ hài lòng của khách hàng. Khi những chỉ tiêu này được theo dõi thường xuyên, doanh nghiệp có thể nhìn thấy mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế, trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường thay vì coi chúng là ba nhiệm vụ tách biệt.
6. Cần một hệ sinh thái TMĐT nông nghiệp bền vững
TMĐT bền vững không thể được xây dựng bởi một doanh nghiệp đơn lẻ. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và bộ tiêu chí đánh giá TMĐT bền vững; phát triển hạ tầng số và logistics; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh tiếp cận đào tạo và các nguồn lực cần thiết. Nhà khoa học và cơ sở đào tạo cần cung cấp bằng chứng khoa học về tác động kinh tế, xã hội và môi trường của TMĐT; phát triển các mô hình phù hợp với đặc thù của nông nghiệp Việt Nam; đồng thời đào tạo nguồn nhân lực có khả năng kết nối giữa marketing, công nghệ, logistics và quản trị nông nghiệp. Doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy "đưa sản phẩm lên sàn" sang tư duy quản trị toàn bộ chuỗi giá trị số. Doanh nghiệp phải là chủ thể biến các mục tiêu về xanh hóa, minh bạch và hiệu quả thành các hoạt động cụ thể. Hợp tác xã và người sản xuất cần chủ động chuẩn hóa sản phẩm, thông tin nguồn gốc và chất lượng, đồng thời nâng cao năng lực tham gia thị trường số.
Cuối cùng, người tiêu dùng cũng là một thành tố quan trọng. Lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, chấp nhận các phương thức giao hàng hợp lý, sử dụng lại hoặc phân loại bao bì và ưu tiên các doanh nghiệp có trách nhiệm sẽ tạo ra tín hiệu thị trường thúc đẩy quá trình chuyển đổi.
7. Kết luận
TMĐT đang mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường, tiếp cận người tiêu dùng và gia tăng giá trị nông sản. Tuy nhiên, lợi thế này chỉ bền vững khi TMĐT được phát triển theo hướng xanh, tuần hoàn, hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường, phù hợp với định hướng phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2026–2030. Đối với doanh nghiệp nông nghiệp, TMĐT bền vững không đơn thuần là đưa sản phẩm lên sàn, mà là đổi mới cách tạo ra và phân phối giá trị thông qua sản xuất dựa trên dữ liệu, minh bạch thông tin, logistics hiệu quả, bao bì phù hợp và xây dựng quan hệ lâu dài với khách hàng. Công nghệ, logistics xanh và quản trị khách hàng là những phương tiện quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu này.
Trong giai đoạn mới, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ nằm ở câu hỏi “bán được bao nhiêu?”, mà còn ở “tạo ra giá trị như thế nào?”. Sự phối hợp giữa Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp – Hợp tác xã, người sản xuất – Người tiêu dùng sẽ là nền tảng để hình thành hệ sinh thái TMĐT nông nghiệp hiệu quả hơn, xanh hơn và bền vững hơn.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Công Thương (2025). Quyết định số 1568/QĐ-BCT ngày 03/6/2025 về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026–2030.
[2] Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam – VECOM (2025). Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam 2025 (EBI 2025). Các số liệu về quy mô TMĐT năm 2024 được các nguồn dẫn lại từ VECOM.
[3] Thủy Trương (2024). Thương mại điện tử có thể thải 800.000 tấn rác nhựa vào 2030. Truy cập từ https://vnexpress.net/thuong-mai-dien-tu-co-the-thai-800-000-tan-rac-nhua-vao-2030-4830107.html
[4] Vân Ly (2024, 19/5). Thương mại điện tử và nỗi lo 800.000 tấn rác thải vào năm 2030. Kinh tế Sài Gòn Online, đăng lại trên Tuổi Trẻ Online. Truy cập tại: https://tuoitre.vn/saigontimes/thuong-mai-dien-tu-va-noi-lo-800-000-tan-rac-thai-vao-nam-2030-106923610.htm
[5] Oláh, J., Kitukutha, N., Haddad, H., Pakurár, M., Máté, D., & Popp, J. (2019). Achieving Sustainable E-Commerce in Environmental, Social and Economic Dimensions by Taking Possible Trade-Offs. Sustainability, 11(1), 89. https://doi.org/10.3390/su11010089.
[6] Nguyen, H. M. T., Tran, T. H., Vu, M. D., & Nguyen, T. K. (2026). Reducing greenhouse gas emissions in delivery activities in E-commerce: A literature review. Engineering and Technology for Sustainable Development, 36(3), 104–114. https://doi.org/10.51316/jst.191.etsd.2026.36.3.14.
[7] UBND tỉnh Hưng Yên (2025). Kế hoạch số 120/KH-UBND ngày 19/11/2025 về phát triển thương mại điện tử tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026–2030.
[8] UBND tỉnh Ninh Bình (2025). Kế hoạch số 140/KH-UBND ngày 19/11/2025 về phát triển thương mại điện tử tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2026–2030. Việc triển khai kế hoạch được Sở Công Thương Ninh Bình cụ thể hóa bằng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh ứng dụng TMĐT.
Trần Thị Mai Phương
Khoa Kế toán & Quản trị kinh doanh